Nguy cơ mất "của quý" do ung thư dương vật

Hiện nay không ít bạn trẻ cho rằng ung thư dương vật là bệnh chỉ dành cho người lớn tuổi và khi nói đến ung thư dương vật là nói đến căn bệnh ''vô phương cứu chữa''.

Song điều đó chưa chắc đã đúng, không ít trường hợp ung thư dương vật được phát hiện sớm và điều trị kịp thời nên đã chữa khỏi và giữ được dương vật.

Ung thư dương vật là gì?

Ung thư dương vật (UTDV) là ung thư của bộ phận dương vật nam giới, xuất phát từ lớp biểu mô vảy không sừng hóa của niêm mạc qui đầu và bao quy đầu.

Ung thư này có độ ác tính khác nhau, biểu hiện lâm sàng phong phú, kết quả điều trị và tiên lượng phụ thuộc vào giai đoạn bệnh. Ung thư xuất phát từ tế bào liên kết (sacômma) của dương vật rất hiếm gặp.

Nguyên nhân

Nguyên nhân thường gặp thứ nhất của UTDV là do hẹp bao qui đầu bẩm sinh, hẹp bao thứ phát sau viêm mạn tính. Hẹp bao quy đầu gây ung thư là do quá trình viêm niêm mạc mạn tính bao quy đầu và quy đầu trong nhiều năm, làm biến dị tế bào và ung thư hóa.

Nguyên nhân thường gặp thứ hai của UTDV là nhiễm vi rút gây u nhú ở người HPV (Human Papilloma Virus-HPV), lây qua đường tình dục. Vi rút này xâm nhập vào niêm mạc tạo nên u nhú rồi chuyển dạng thành ung thư.

Phát hiện sớm

Trường hợp không hẹp bao qui đầu, chẩn đoán sớm UTDV là dễ dàng. Khối u xuất hiện ở bề mặt qui đầu, mặt trong bao quy đầu, rãnh hành - bao quy đầu. U sùi, dễ chảy máu khi vệ sinh, khi giao hợp. U lan dần ra xung quanh, sùi loét.

Trường hợp có hẹp bao quy đầu, u bị che lấp, khó phát hiện. Giai đoạn đầu, u nhỏ, kín đáo, ngứa đầu dương vật, tiết dịch hôi kéo dài, đau khi va chạm, đi tiểu, giao hợp. Đến khám, mở bao qui đầu mới thấy u sùi, loét, dễ chảy máu, mùi hôi khó chịu.

https://2sao.vietnamnetjsc.vn//2015/09/08/08/21/nguy-co-mat-cua-quy-do-ung-thu-duong-vat_1.jpg

Chẩn đoán: Các bác sĩ sẽ khám và chẩn đoán bệnh, xếp loại u để có quyết định điều trị phù hợp.

U xếp loại T1 là giai đoạn sớm. Khi đó khối u nhỏ ở mặt trong bao quy đầu hoặc ở rãnh hành - bao quy đầu. U sùi, dễ chảy máu. Khi u lan rộng, sùi loét phá hủy về phía qui đầu. Nếu có hẹp bao quy đầu, u nhỏ bị che lấp dưới bao nên khó phát hiện, khi bác sĩ khám, mở bao qui đầu mới thấy u sùi, loét, dễ chảy máu.

U xếp loại T2 là u khu trú tại đầu dương vật, u đẩy lồi bao quy đầu, biến dạng dương vật như dùi trống, đầu dương vật to, nặng, kéo thõng dương vật xuống dưới như cái lắc chuông. Khối u xâm lấn, thâm nhiễm, lan rộng và phá huỷ bao quy đầu, quy đầu. Ở giai đoạn này bác sĩ dễ chẩn đoán nhưng khó đánh giá đúng mức độ lan rộng của u.

U xếp loại T3 là u xâm lấn thân dương vật, dương vật cứng từ gốc đến ngọn.

U xếp loại T4 là khi u lan hết dương vật, xâm lấn bề nông đến da bìu, da mu, xâm lấn bề sâu đến tuyến tiền liệt, cổ bàng quang.

Bác sĩ cũng sẽ khám và phát hiện di căn hạch của UTDV theo mức độ khác nhau. Hạch có thể to đơn độc hay thành đám, dưới cung đùi hay trên cung đùi, hạch di động hay cố định, da trên hạch có thể còn nguyên hoặc bị phá vỡ. Hạch bẹn có thể có ở một bên cùng phía u nhưng có thể có ở cả hai bên. Không nhất thiết u càng lớn thì càng nhiều di căn hạch.

UTDV ít di căn xa. Di căn xa theo đường bạch huyết đến hạch thượng đòn trái. Di căn xa theo đường máu đến phổi, triệu chứng kín đáo nên khó được phát hiện. Một số trường hợp di căn theo đường máu đến xương gây ra triệu chứng đau khu trú, thường xuyên. Bác sĩ chẩn đoán được bằng chụp X quang xương.

Bác sĩ chẩn đoán UTDV bằng khám lâm sàng, nhưng để chẩn đoán quyết định bác sĩ cần cho người bệnh làm sinh thiết, xếp loại ung thư, xếp độ ác tính. Sinh thiết rất cần thiết, giúp bác sĩ chẩn đoán phân biệt với một số bệnh như u lành tính, viêm niêm mạc quy đầu do đái tháo đường, viêm nhiễm do nguyên nhân khác như giang mai, viêm loét quy đầu.

Nếu nghi là do đái tháo đường, bác sĩ cho người bệnh làm xét nghiệm đường huyết cao, đường niệu chứ không nên sinh thiết ngay. Sẽ điều trị hạ đường huyết, vệ sinh quy đầu, dùng kháng sinh. Sau 3 tuần, tổn thương tự lành, nếu còn nghi ngờ bác sĩ mới cho làm sinh thiết chẩn đoán giải phẫu bệnh.

Điều trị

Phẫu thuật

UTDV được bác sĩ điều trị chủ yếu bằng phẫu thuật triệt căn, cắt hết u và vét hạch khu vực. Diện cắt cách xa u ≥ 2cm, diện cắt hết u, vi thể không có tế bào ung thư. Nếu diện cắt chưa sạch ung thư, sẽ được cắt lại cho sạch vì không có biện pháp nào tốt hơn.

Hạch bẹn được vét hai bên, vét hạch bẹn nông và sâu. Chỉ định và lựa chọn phương pháp phẫu thuật được bác sỹ thực hiện hợp lý ngay từ đầu, bảo đảm  không sót ung thư tại diện cắt dương vật và tại hạch khu vực.

Điều trị tia xạ


Tia xạ được sử dụng trong một số trường hợp khi hạch bị di căn,  bổ trợ sau mổ vùng bẹn, vùng chậu hai bên. Tia xạ còn được dùng phối hợp với hoá chất trong trường hợp ung thư không còn chỉ định phẫu thuật. Tia xạ điều trị giảm đau vùng di căn xương. Liều xạ khoảng 55 đến 60 Gy. Biến chứng thường gặp là phù bạch huyết 2 chi dưới, xơ sẹo vùng bẹn.

Điều trị hoá chất

Hóa trị có vai trò bổ trợ trước mổ được chỉ định đối với trường hợp ung thư  phát triển nhanh, độ mô học cao nhằm làm u thoái lui trước mổ. Điều trị hoá chất bổ trợ sau mổ chống vi di căn đối với trường hợp ung thư ít biệt hoá. Điều trị hoá chất đơn thuần hoặc phối hợp với tia xạ nhằm giảm triệu chứng, kéo dài thời gian sống thêm đối với ung thư lan rộng không phẫu thuật được.

Theo Cửa sổ tình yêu

Tin tức mới nhất